Tiêu chuẩn về vận tốc dòng chảy, tốc độ nổi của hạt dầu, kích thước hình học tối ưu và vị trí lắp đặt công trình trong trạm xử lý. Bên cạnh đó, bài viết còn phân tích sự khác biệt giữa phương pháp tách trọng lực truyền thống và công nghệ tuyển nổi áp lực
NỘI DUNG BÀI VIẾT
Trong quy trình xử lý nước thải hiện đại, việc kiểm soát hàm lượng dầu mỡ là bước then chốt để đảm bảo sự ổn định của các công trình sinh học phía sau. Nước thải chứa dầu không chỉ gây tắc nghẽn hệ thống đường ống mà còn tạo ra lớp màng ngăn cản quá trình hòa tan oxy, gây ức chế hoạt động của vi sinh vật.
Chính vì vậy, việc thiết kế một bể tách dầu chuẩn xác về mặt kỹ thuật là yêu cầu bắt buộc nhằm loại bỏ các chất béo, dầu khoáng và mỡ động thực vật trước khi chúng xâm nhập vào giai đoạn xử lý bậc cao.
Việc tách dầu mỡ dựa trên nguyên lý chênh lệch tỷ trọng giữa dầu và nước. Theo quy luật vật lý, các hạt dầu có khối lượng riêng nhẹ hơn nước sẽ có xu hướng nổi lên bề mặt, trong khi các chất rắn nặng hơn sẽ lắng xuống đáy.
Quá trình này đòi hỏi một không gian lưu trữ với vận tốc dòng chảy đủ thấp để các hạt dầu có đủ thời gian di chuyển từ dòng chảy chính lên lớp bề mặt. Hiệu quả của công trình phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước hạt dầu, nhiệt độ nước thải và các thông số thủy động lực học trong bể.
Mục đích cốt lõi của việc lắp đặt công trình này là tách bỏ các thành phần dầu mỡ lơ lửng nhằm bảo vệ các thiết bị máy móc và đảm bảo hiệu quả cho các đơn vị xử lý tiếp theo. Dầu mỡ khi đi vào các bể bùn hoạt tính có thể bao phủ bề mặt các bông bùn, làm giảm khả năng tiếp xúc giữa vi sinh vật và chất hữu cơ, từ đó làm giảm hiệu suất xử lý BOD và COD.
Sự hiện diện của bể tách dầu giúp ngăn chặn hiện tượng này, đồng thời giảm thiểu lượng bùn thải phát sinh do dầu bám dính.
Bên cạnh đó, việc tách dầu còn giúp thu hồi các tài sản có giá trị trong một số ngành công nghiệp thực phẩm hoặc chế biến dầu. Dầu sau khi được tách ra thông qua thiết bị gạt chuyên dụng có thể được thu gom và chuyển cho các đơn vị xử lý chất thải nguy hại hoặc tái chế tùy theo tính chất.
Điều này không chỉ mang lại lợi ích về môi trường mà còn giúp doanh nghiệp tuân thủ các quy chuẩn xả thải nghiêm ngặt của pháp luật hiện hành.
Không phải mọi trạm xử lý nước thải đều bắt buộc phải có công trình tách dầu mỡ riêng biệt. Theo các tiêu chuẩn, việc sử dụng bể tách dầu chỉ trở nên cấp thiết khi hàm lượng dầu trong nước thải đầu vào đạt mức từ 100 mg/L trở lên.
Đối với các nguồn thải có nồng độ dầu thấp hơn, các công trình lắng ngang hoặc bể điều hòa có thể được tích hợp thêm thiết bị thu gom váng nổi để tối giản hóa quy trình xây dựng.
Cấu tạo của công trình này thường được tính toán tương tự như một bể lắng ngang theo tiêu chuẩn TCVN 7957 nhằm đảm bảo khả năng tách chất rắn và chất nổi đồng thời. Khả năng tách của bể chủ yếu tập trung vào các hạt dầu tự do có kích thước đường kính nằm trong khoảng từ 80 đến 100 μm.
Đối với các dạng dầu nhũ tương hóa hoặc có kích thước hạt nhỏ hơn, cần cân nhắc phối hợp thêm quá trình keo tụ tạo bông hoặc công nghệ tuyển nổi áp lực để đạt hiệu quả tối ưu.
Trong sơ đồ công nghệ tiêu chuẩn, công trình tách dầu mỡ được bố trí ở giai đoạn xử lý cơ học. Cụ thể, khi lưu lượng nước thải đạt từ 100 m³/ngày đêm trở lên, bể tách dầu sẽ được lắp đặt ngay sau bể lắng cát và song chắn rác.

Vị trí này đảm bảo rằng các loại rác thô và cát sỏi đã được loại bỏ, tránh gây hư hỏng cho thiết bị gạt váng hoặc làm tắc nghẽn hệ thống thu hồi dầu.
Nước thải sau khi đi qua bể lắng cát sẽ chảy vào vùng phân phối của thiết bị tách dầu. Tại đây, vận tốc dòng chảy được kiểm soát chặt chẽ để tạo điều kiện cho các hạt dầu nổi lên.
Sau công đoạn này, nước trong sẽ tiếp tục chảy sang các công trình xử lý sinh học hoặc bể tuyển nổi nếu hàm lượng dầu vẫn vượt mức tiêu chuẩn cho phép đối với các đơn vị tiếp theo. Việc sắp xếp vị trí khoa học giúp hệ thống vận hành trơn tru và kéo dài tuổi thọ cho các thiết bị cơ khí.
Vận tốc nước chảy trong bể thường được duy trì trong khoảng từ 4 đến 6 mm/s nhằm ngăn chặn sự xáo trộn làm vỡ các hạt dầu. Đồng thời, tốc độ nổi của hạt dầu cần được tính toán kỹ lưỡng, thường dao động từ 0,4 đến 0,6 mm/s.
Nếu thiết kế đạt tốc độ nổi 0,4 mm/s, hiệu suất của bể tách dầu có thể đạt khoảng 70%, trong khi ở tốc độ 0,6 mm/s, hiệu suất sẽ giảm xuống còn khoảng 60%.
Thiết bị tách dầu ngang thường được chia làm ít nhất 2 ngăn để tăng tính linh hoạt trong vận hành và bảo trì. Chiều rộng của mỗi ngăn thường dao động từ 3 đến 6 m với chiều sâu lớp nước tiêu chuẩn là 2 m.
Một thông số quan trọng khác là tỷ lệ giữa chiều dài và chiều sâu của bể, thường nằm trong khoảng 15 đến 20 lần. Thời gian lưu nước (HRT) trong bể phải đảm bảo tối thiểu là 2 giờ để quá trình tách pha diễn ra hoàn toàn.
Xác định diện tích bề mặt cần thiết dựa trên lưu lượng nước thải và tốc độ nổi của hạt dầu mục tiêu. Kích thước của bể tách dầu phải bao gồm không gian cho lớp dầu nổi phía trên và lớp cặn lắng phía dưới.
Thông thường, lớp dầu nổi trên bề mặt được thiết kế có độ dày khoảng 0,1 m, và lớp cặn tích lũy ở đáy bể cũng được dự phòng khoảng 0,1 m. Đối với các thông số nồng độ cặn và khối lượng riêng, cần tham chiếu các tiêu chuẩn quy định để có con số chính xác nhất cho từng loại nước thải.
Ngoài các thông số hình học, hệ thống gạt váng cũng cần được tích hợp để thu gom dầu định kỳ. Thiết bị gạt có thể vận hành tự động bằng xích kéo hoặc thủ công tùy vào quy mô trạm xử lý.
Trong trường hợp nước thải chứa các hạt dầu quá mịn, quy trình thiết kế có thể chuyển hướng sang sử dụng bể tuyển nổi áp lực (DAF). Bể DAF vận hành dựa trên việc hòa tan khí vào nước dưới áp suất cao để tạo ra các bọt khí siêu mịn, giúp đẩy các hạt dầu và cặn lơ lửng lên bề mặt nhanh hơn nhiều so với phương pháp tách trọng lực tự nhiên.
Sau khi đưa vào vận hành, việc bảo trì thường xuyên là yếu tố quyết định đến hiệu suất lâu dài của công trình. Để đảm bảo bể tách dầu hoạt động tốt, lớp dầu mỡ thu gom trên bề mặt phải được lấy ra định kỳ thông qua máng thu váng.
Nếu để lớp dầu quá dày, chúng có thể bị cuốn theo dòng nước chảy ra ngoài hoặc bị phân hủy gây mùi hôi khó chịu. Hệ thống gạt dầu cần được kiểm tra định kỳ về tình trạng xích kéo, động cơ và các lưỡi gạt để tránh sự cố hỏng hóc cơ học.
Song song với việc thu dầu, lớp cặn lắng ở đáy bể cũng cần được xả bỏ để tránh làm giảm dung tích hữu dụng của bể. Nước thải sau khi tách dầu phải được kiểm tra định kỳ các chỉ tiêu về dầu mỡ khoáng và dầu mỡ động thực vật để điều chỉnh thời gian lưu hoặc bổ sung hóa chất keo tụ nếu cần thiết.
Việc quản lý tốt lượng dầu mỡ thu gom và chuyển giao cho các đơn vị chức năng không chỉ đảm bảo vệ sinh môi trường mà còn thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất.
Thiết kế bể tách dầu chuẩn xác đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về các đặc tính lý học của nước thải và các quy luật thủy động lực học. Việc tuân thủ các thông số về vận tốc nước chảy từ 4-6 mm/s và đảm bảo thời gian lưu nước tối thiểu 2 giờ là chìa khóa để đạt được hiệu suất tách dầu tối ưu.
Một hệ thống tách dầu hiệu quả sẽ tạo tiền đề vững chắc cho các công đoạn xử lý phía sau, giúp trạm xử lý nước thải luôn vận hành ổn định và đạt các tiêu chuẩn môi trường khắt khe.
CÔNG TY TNHH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT XỬ LÝ NƯỚC TRUNG DIỆP TÍN
Địa chỉ: 1232 Tỉnh Lộ 10, Khu Phố 5, Phường Tân Tạo, Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh
Số 2 Nguyễn Văn Cự, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
Hotline: 0908.394.311
Website: xulynuoctrungdieptin.com
Facebook: https://www.facebook.com/xulynuoc.trungdieptin/
Fanpage: https://www.facebook.com/congtyxulynuocTrungDiepTin/
Youtube: https://www.youtube.com/@xulynuoctrungdieptin6686
Tiktok: https://www.tiktok.com/@xlntrungdieptin
Email: trungdieptin@yahoo.com.vn | xlntrungdieptin@gmail.com.
